Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015

NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA NHÀ THƠ LINH PHƯƠNG VÀ NGƯỜI YÊU HIỆN NAY












































NHỮNG HÌNH ẢNH CỦA NHÀ THƠ LINH PHƯƠNG VÀ NGƯỜI YÊU HIỆN NAY -Nguyễn Thụy Bích Hạnh - ( Sưu tầm trên FB )

Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

NGÀY ẤY – TÔI ĐÃ GẶP ÔNG LINH PHƯƠNG TÁC GIẢ BÀI THƠ PHỔ NHẠC “ KỶ VẬT CHO EM “

NGÀY ẤY – TÔI ĐÃ GẶP ÔNG LINH PHƯƠNG TÁC GIẢ BÀI THƠ PHỔ NHẠC “ KỶ VẬT CHO EM “ - Nguyễn Thụy Bích Hạnh -
Tôi nhớ ngày ấy, vào những năm cuối thập niên 60. Tôi học trường nữ trung học Gia Long ( một trong những trường công lập nổi tiếng nhất Sài Gòn như : Trường nữ trung học Gia Long, nữ trung học Trưng Vương…), tôi đã đọc thơ của nhà thơ Linh Phương. Đó là năm 1967, tôi đọc thơ ông trên những tờ nhật báo, tuần san hay bán nguyệt san phát hành tại thủ đô Sài Gòn. Đám nữ sinh trường tôi, trường Trưng Vương, trường nữ trung học Lê Văn Duyệt mấy đứa bạn tôi đều mê thơ ông.Thường thường, những chiều chúng tôi đi ngang ngã sáu Sài Gòn nơi phát hành toàn bộ báo chí, giở từng tờ báo để xem có thơ Linh Phương mới mua. Mà ngày nào như ngày nấy, thơ ông đăng thường xuyên ít nhất trên 3 tờ báo. Tôi thích bài thơ “ Phượng Sài Gòn “ đăng trên nhật báo “ Ngôn Luận “ hay bài “ Áo tím mùa thu “ hay những bài thơ đăng trên báo “ Báo Đen “ do thi sĩ Nguyên Sa phụ trách. Dễ thương nhất là những bài “ Napoléon và Joséphine “ ; “ Trương tiểu thư “. Với tên Đoàn Đình Tây Phố hoặc Phạm Nguyễn Hà Đông. Đám nữ sinh chúng tôi chép thơ ông trong những quyển tập dày, trình bày thật đẹp và viết chữ thật cẩn thận.Trường Gia Long tôi có bút nhóm Áo Trắng do Uyên Mai , Hoàng Oanh …; còn Trưng Vượng thì nhóm “ Hoa Phượng “ với Uyên Ly, An Khanh. Riêng ông là trưởng nhóm Văn nghệ Hoa Đông Phương-một nhóm mà nữ chiếm ưu thế. Tôi vẫn nhớ, tôi gặp ông trong trường hợp như là một định mệnh rất tình cờ. Tôi từ bến xe bus bước qua vòng xoay Quách Thị Trang, ông chạy xe Honda trờ tới, tôi bước lui. Thế là, ông không thể nào tránh cho được , ông đụng tôi té xuống đường. Ông lật đật dựng xe đỡ tôi đứng lên. Tôi nhìn ông, người chiến binh thật oai hùng ( đa số nữ sinh thời bấy giờ rất thích là người yêu của lính ), quân phục rằn ri sóng biển, mũ nhung xanh với phù hiệu Thủy Quân Lục Chiến và phiên hiệu tiểu đoàn “ Thần Ưng Cảm Tử “. Bảng tên “ Linh Phương “ màu đen lóng lánh kim tuyến .Ông rất đẹp trai, khuôn mặt trẻ rất trẻ và dễ thương vô cùng.Ông không ngớt xin lỗi tôi khi khuỷu tay áo dài trắng tôi bị rách , khuỷu tay tôi rướm máu. Tôi tức cười, vì ông chỉ biết xin lỗi tôi thôi. Ôi ! Tại sao không nói gì khác hơn nhỉ ? Tôi nói : - Ông chỉ biết xin lỗi em thôi à ? Lúc này ông mới cười : - Vậy tôi biết làm sao bây giờ ?; “ Tay áo em rách rồi, ông tính sao ? “. Ông gãi đầu. Thấy tội nghiệp ông quá, người lính Cọp Biển ngoài chiến trường dữ dằn cách chi mà ở hậu phương, trước con gái ông lại hiền lành như cục bột.” Thôi, ông đi đi ông Linh Phương tác giả Kỷ Vật Cho Em. Em rất hân hạnh được gặp ông, hân hạnh dù bị rách tay áo .Bởi tụi bạn em nói ông rất kiêu ngạo, mấy lần tụi nó gặp ông , tụi nó chào mà ông ngó lơ đi luôn “: “ Cô lên xe tôi đưa cô về “. “ Dạ thôi, em đang bận vào chợ Bến Thành mua chút vật dụng. Hẹn ngày gặp lại ông nhé ! “.” Cám ơn cô nhé “. Đó là lần tôi gặp ông đầu tiên cũng là lần cuối cùng. Ông đánh trận liên miên, nay chỗ này,mai chỗ khác. Người lính tác chiến như ông ít khi thong thả ở Sài Gòn như những người lính khác. Mấy lần, tôi đến hậu cứ Tiểu đoàn của ông, nhưng lần nào ông cũng hành quân, tôi thì đang học Văn khoa, không thời gian theo gót giày saut bốn vùng chiến thuật của binh chủng ông. Những ngày cuối tháng 3- 4 năm 1975, nghe tin một nhóm quân nhân Thủy Quân Lục Chiến tự sát chết tập thể tại bãi biển vì không đầu hàng đối phương, tôi đã khóc. Không biết ông còn sống hay đã chết trong những người anh hùng kia. Ông Linh Phương ơi ! Một lần gặp ông như là một định mệnh, em luôn nhớ đến khuôn mặt ông, khuôn mặt thật thánh thiện như tấm ảnh anh mặc quân phục chụp năm 1970. Em luôn cầu nguyện cho ông chân cứng đá mềm trên bước đường quân ngũ. Ông là người của công chúng, một nhà thơ tài hoa có một tác phẩm bất hủ làm rúng động giới yêu thơ, yêu nhạc trong chiến tranh Việt Nam. Em cầu nguyện cho ông sẽ sống, dù phải sống trong đau khổ của những người lính tan hàng. Ông sống trong lòng công chúng, và đã gần nửa thế kỷ trôi qua “ Kỷ Vật Cho Em “ vẫn bất tử . Bây giờ, em được biết ông còn sống, còn khỏe mạnh là em rất vui-người lính anh hùng ngày xưa không bao giờ chết. Cám ơn ông đã để cho đời một tác phẩm sống mãi theo thời gian. .

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

MỐI TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ LINH PHƯƠNG ?



MỐI TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ LINH PHƯƠNG ?
- Mũ Xanh Hoài Anh -

Mối tình của ông và người xưa đã không thể nào châu hoàn hợp phố sau hơn 40 năm chia cắt, mỗi người có một cuộc sống riêng, một cuộc đời riêng. Biết tin nhau là đã 36 năm mất nhau giữa thời loạn lạc. Biết tin nhau là biết rằng dòng đời hai ngã : Trần Thị Thu Hồng hạnh phúc bên chồng con bên kia bờ đại dương, người xưa sống đời gấm hoa nhung lụa ; còn nhà thơ Linh Phương-ông vất vả mưu sinh ở quê nhà khi học tập cải tạo trở về. Mưu sinh gì với hai bàn tay trắng ? Mưu sinh gì lúc tuổi thanh xuân từ giã áo học trò mặc đồ quân nhân lên đường ra mặt trận có biết nghề nghiệp đâu ? Mưu sinh gì đối với kẻ bại trận không chốn nương thân ? Chiến tranh và tù đày đã “ đánh cắp “ thời tuổi trẻ mộng mơ của số phận một con người,trong triệu số phận con người lớn lên ở Miền Nam Việt Nam.




Tôi không hiểu lúc biết được tin nhau hơn 36 năm dài đăng đẵng, người xưa của ông có giúp đỡ ông những ngày cuối đời không ? Những lúc bệnh tật, ốm đau họ còn nghĩ về nhau khi thuở thanh xuân không đến với nhau được, và tuổi xế chiều cũng biền biệt phân ly ? Hệ lụy của chiến tranh Việt Nam vẫn còn sắp hàng theo ngần ấy số phận con người qua cuộc bể dâu. Thời gian 36 năm như một cột mốc tình yêu : hội ngộ rồi chia ly. Chiến tranh họ có một tình yêu nồng thắm, hòa bình-tình yêu của họ trở nên lạnh lùng với một xã hội thực dụng hôm nay.

Năm 2014, ông có một mối tình phần đời còn lại của mình- một mối tình mà tôi và những người ái mộ ông, hy vọng ông sẽ thực sự được hạnh phúc bên người phụ nữ xinh đẹp mang tên Trầm Kiều.Theo như được biết qua mạng xã hội, tình yêu họ bắt đầu từ cuộc họp mặt văn nghệ ở Bến Sông Trăng – Bình Quới ( Sài Gòn ). Hình ảnh họ bên nhau ở Sài Gòn thật dễ thương, thật tình tứ như thời mới lớn Linh Phương, thời mới lớn của Trầm Kiều, người đàn bà của nhà thơ nổi tiếng Linh Phương.

“…Sợ tình kiều sẽ hóa hư không

Nên qua ngõ chung cư tìm lại

Mùi ngực em anh còn giữ mãi

Lúc lên xe tạm biệt Sài Gòn…”

( Trầm- Linh Phương )

Hai cuộc đời tìm lấy nhau qua quá khứ bão giông, họ hiểu thế nào là hạnh phúc, thế nào là nương tựa nhau khi họ không còn ở tuổi mộng mơ. Tình yêu sẽ khiến họ trẻ lại, niềm vui sẽ khiến họ quên đi những gì khó khăn trong cuộc sống đời thường. Tình yêu qua thơ, qua hình ảnh họ chụp thật thơ mộng, đầy thương nhớ như chưa hề biết nhớ thương

“…Môi trầm đỏ

lúc anh hôn

Ngã nghiêng

trời đất Sài Gòn

đêm qua

Đêm qua

trăng xế nguyệt tà

Có hai người nói :

“ Mình là của nhau “…”

( Đêm qua ở Sài Gòn- Linh Phương )

Họ có nhiều kỷ niệm, nơi thật nhiều kỷ niệm là Thành phố Rạch Giá , là cà phê Cỏ Đá, là Trung Nguyên,là Elle , là Gossif , là phòng trà …Có lẽ thời gian này hạnh phúc  thật hạnh phúc của nhà thơ nhiều lận đận, gian nan.

Mấy mươi năm thoáng chốc chẳng khác giấc chiêm bao, giấc chiêm bao cả một đời người. Ông vừa là một chiến hữu, vừa là người tôi ngưỡng mộ từ hồi còn khoác áo chiến y. Ông-một nhà thơ nổi tiếng “ Kỷ Vật Cho Em “ từ đầu thập niên 70, đã 45 năm trôi qua, nhưng tên ông vẫn không phai nhòa trong lòng người yêu nhạc, yêu thơ. Định mệnh ông vận vào Kỷ Vật Cho Em, vận vào vận mệnh đất nước. Ông-nhà thơ hiền lành, dí dỏm, hài hước mà anh em văn nghệ sĩ đều công nhận. 45 năm có thể chưa nhạc phẩm phổ thơ nào được nhắc nhớ, được sống theo thời gian gần nửa thế kỷ như “ Kỷ Vật Cho Em “. Hai đồng tác giả bây giờ chỉ còn lại ông, ông vẫn còn phong độ, vẫn còn trẻ trung so với tuổi của ông.
Cuối năm 2014


TÁC PHẨM LINH PHƯƠNG
QUẾ TRẦM MỘT THUỞ


Thương miệng em cười-môi em đỏ
Nhớ Sài Gòn anh nhớ gì đâu
Cứ dặn lòng không còn nhớ nữa
Quế xa trầm nên trái tim đau

Anh ngậm ngãi tìm em trăm bận
Ngóng đường xe mấy nẻo thị thành
Hơn nửa đời gian nan - lận đận
Gặp em rồi đã bạc tóc anh

Gặp em rồi quế trầm một thuở
Trong mắt anh giờ cũng thôi buồn
Trong mắt em sầu giăng mây khói
Ngày hôm qua mây khói đầy hồn

Ngày hôm qua con đường phố chợ
Thương gì đâu cái miệng em cười
Thương gì đâu đôi môi em đỏ
Lúc ra về anh nhớ khôn nguôi

Lúc ra về mùi em theo gió
Thoáng nhẹ bay quanh chỗ anh nằm
Mùi em thơm dỗ dành anh ngủ
Mộng thấy trầm khe khẽ kiều…hôn

NGỰC TRẦM THƠM
Hôm uống rượu bên đường với bạn

Trái tình anh rụng xuống ngực trầm

Gió Sài Gòn bỗng dưng phiêu lãng

Thổi nhẹ nhàng buốt lạnh khuôn trăng



Anh nắm chặt bàn tay thon nhỏ

Bàn tay xinh năm ngón dịu mềm

Khi xa rồi mà anh còn ngỡ

Ly bia chiều ẩn hiện bóng em



Nặng lòng chi đời anh khốn nạn

Bao nhiêu năm hiu quạnh một mình

Bao nhiêu năm cuối trời lận đận

Bụi giang hồ đã bạc tóc xanh



Em đó ư ! Hồng nhan tri kỷ

Những ngày vui ngắn ngủi vô cùng

Hồn anh giờ khác chi biển động

Mơ chiều tàn êm ả đêm sông



Em đó ư ! Mùi ngực thơm trầm

Thương mãi thương hoài câu tạm biệt

Môi mật ngọt anh thèm da diết

Nụ hôn nồng say đắm trao nhau



Em đó ư ! Hỡi người yêu dấu

Hương áo bay theo phố ngậm ngùi

Lên xe tiễn . Trời ơi ! Đau nhói

Mắt em buồn vời vợi khôn nguôi



Về đây ngửa mặt nhìn mây trắng

Mây trắng bay anh nhớ Sài Gòn

Nhớ tóc em sợi dài-sợi vắn

Buộc tim anh vào trái tim trầm

TRẦM
-Linh Phương-
Nhớ Sài Gòn anh nhớ chung cư

Nhớ con đường nhớ đôi mắt liếc

Tóc trầm thơm giữa trời xanh biếc

Môi trầm thơm Cao Đạt nắng chiều



Mấy mươi năm đời vốn buồn hiu

Ngày xế bóng thương kiều anh đợi

Chiếc váy hồng - câu thơ viết vội

Lúc yêu nhau thơ cũng yêu người



Lúc yêu nhau yêu chỗ em ngồi

Bên ly cà phê - ca sĩ hát

Đêm phòng trà khuya lơ khuya lắc

Ra về rồi phố vắng ngủ yên



Vòng tay anh ôm vòng eo em

Nghe hơi thở hương trầm theo gió

Níu hương lại, buông trầm đâu nỡ

Trái tim anh cứ nhảy Soul hoài



Hình như lòng vừa chớm heo may

Thu nhẹ rắc phấn vàng lên áo

Anh nhẹ hôn đôi bàn chân sáo

Mười ngó sen trắng muốt ngón trầm



Sợ tình kiều sẽ hóa hư không

Nên qua ngõ chung cư tìm lại

Mùi ngực em anh còn giữ mãi

Lúc lên xe tạm biệt Sài Gòn



Quê nhà anh vời vợi nước sông

Mỏi mắt nhìn đường xa vạn dặm

Chân mây. Ừ ! Chân mây đã trắng

Khói sầu bay khuất nẻo thị thành
- Linh Phương -

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

CUNG TÍCH BIỀN - CON NGƯỜI, CUỘC ĐỜI VÀ CÁC SÁNG TÁC




Mặc Lâm
 
Nhà văn Cung Tích Biền tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1937 tại Thăng Bình, Quảng Nam. Từ 1970 là giảng viên Trường Sĩ Quan Hành Chánh Sài Gòn. Ông giải ngũ năm 1973 với cấp bậc Đại úy. Sau đó làm Giáo Sư Thỉnh Giảng Viện Đại Học Cộng Đồng Quảng Đà, Đà Nẵng.
Là một nhà văn độc lập, ông có truyện và thơ đăng trên các báo từ Năm 1958, với nhiều bút hiệu khác nhau lúc ban đầu như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh trước khi có bút hiệu Cung Tích Biền.
Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật tháng 3-1966 tại Sàigòn, với truyện ngắn Ngoại Ô Dĩ An và Linh Hồn Tôi.
Nhanh chóng có truyện đăng trên hầu hết các nhật báo, tuần báo, tập san văn học nghệ thuật có giá trị, trước và sau 1975, trong và ngoài nước. Cung Tích Biền đang sống tại Đồng Ông Cộ, Sài Gòn, Việt Nam.

CUỘC ĐỜI THAY ĐỔI   

 

Trong câu chuyện với chúng tôi ngày hôm nay, nhà văn cho biết hoàn cảnh sống của ông trong lúc này, tức là sau hơn ba mươi năm sau ngày 30 tháng 4 bảy lăm:
Nhà văn Cung Tích Biền : Tôi thì tôi sống khá bản lĩnh cho nên tôi luôn luôn bình tĩnh trước mọi việc dù đó là cái ám ảnh những sự khốn nạn, ngay cả bệnh hoạn như trong tình trạng tôi bị ung thư bây giờ chẳng hạn tôi cũng có sự chế ngự riêng. Có lẽ về mặt tâm linh tôi cũng khá tốt.
ML : Thưa ông, xin được phép chia sẻ với nhà văn những khó khăn mà ông gặp trong đời sống hàng ngày từ nhiều năm qua. Chúng tôi cũng xin cảm ơn ông tuy rằng rất là khó khăn song vẫn chấp nhận nói chuyện với chúng tôi trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật ngày hôm nay. Thưa ông, với những khó khăn này thì làm cách nào mà ông và gia đình có thể vượt qua được khi ông chấp nhận tiếp tục cầm viết trong chế độ không cho phép xuất bản tác phẩm của mình?
CTB : Nói về sự khốn khổ ở đây thì vô cùng! Khốn khổ về vật chất thì tôi đã từng dạy con tôi từng sống với khốn nạn, cả nhà tôi cũng nói như vậy thôi. Cái khổ đó thì với chuyện đời nó cũng bình thường thôi. Có điều cái mà nó dằn vặt về trí não, về tâm linh, cái thất vọng về mặt tư tưởng, cái đó mới đáng làm cho mình bận tâm, thưa anh ạ. Sau 75 thì hoàn toàn có cái gì gần như đổ vỡ và tuyệt vọng!
ML : Được biết là ông đã có kinh nghiệm về giai đoạn chín năm trong vùng kháng chiến và cũng là người sau đó có mặt tại Miền Nam với một vị trí khá cao là giảng viên của Trường Sĩ Quan Hành Chánh Sài Gòn. Ông có so sánh gì về hai hoàn cảnh sống khác nhau này ạ?
CTB : Tôi đã từng sống 9 năm trong vùng kháng chiến và chính trong thời kháng chiến tôi cũng đi đánh đàn đánh nhạc, sống trong cái tâm trạng vui của tuổi trẻ, nhưng mà sau này nhìn lại tôi thấy như một giấc mộng vậy đó. Thành ra tôi ở cái ranh giới khó về lắm chứ không phải tôi sống hoàn toàn trong vùng quốc gia.
Sau này sống trong vùng quốc gia thì vừa trưởng thành vừa được dịp đi học, được mở rộng, được đi học thì mình được tiếp cận với một thế giới khác hơn.
Cuộc chiến bắt đầu thì tôi lại lâm vào đó, tôi phải đi lính trong quân đội VNCH, rồi mình cũng phải tham dự vào những chuyện gọi là lý tưởng thì cũng không hoàn toàn phải là của lý tưởng, thất vọng thì hoàn toàn cũng không phải là thất vọng, bởỉ vì hồi đó chính quyền Miền Nam có cái dung dưỡng được mình và mình cũng sống trong môi trường tương đối tự do: tự do viết, tự do sáng tạo, tự do in ấn.
Rồi ngay trong đời sống quân đội, dù có đi lính đi nữa thì cũng có cái thoải mái của quân đội. Thật sự chế độ cũ cũng có vài cái mà có lẽ mình cũng không nên bàn vì anh em cũ họ cũng có thấy cái đó. Anh em ở chiến trường họ cũng thấy những cái vướng mắc, những cái u bướu trong một chế độ, chứ thật sự 20 năm, 21 năm Miền Nam cũng có cái rất vui, có những cái hạnh ngộ, có những đau buồn.

HOÀN CẢNH XÃ HỘI  

 

ML : Trong tác phẩm mang tên Bạch Hóa ông đã chia sẻ rất nhiều những cảm nhận sau khi hòa bình lập lại, tức là năm 75. Cho tới nay thì những nhận định này có thay đổi ít nhiều gì do hoàn cảnh xã hội hay không, thưa ông?
CTB : Tôi luôn luôn nghĩ cũng như anh em hồi đó sống trong khói lửa ai cũng mơ một đất nước thống nhất và hoà bình. Đó là cái giấc mơ chung, ước mơ chung, bởi vì thật sự không ai kham nổi cuộc chiến mà nó vượt sự phi lý, một cuộc nội chiến khó giải thích về cái điểm vô luân của nó như tôi viết trong Bạch Hoá.
Thành ra cái khao khát thật sự hồi đó là mong được hoà bình và đất nước thống nhất, rồi sau đó cái gì sẽ tính sau, bên nào cũng được nhưng mà phải ngưng tiếng súng cho bớt đổ máu, cho hoà bình, đất nước một nhà.
Nhưng cái thống nhất một nhà này là do của Hà Nội chứ không phải của Sài Gòn thành ra chúng tôi lại cũng gặp thêm một khổ nạn nữa, bởi vì bất cứ ở đâu thì chúng tôi cũng là người trong hàng ngũ chiến bại, không đầu hàng cũng bắt buộc phải buông súng.
ML: Ông có thể cho biết những hoạt động viết lách của ông sau năm 1975 như thế nào không ạ?
CTB: Thời gian rất dài từ 75 đến 87 thì tôi không viết lách gì hết. Tôi không viết lách gì hết nhưng trong thời gian đó tôi cũng rất cẩn thận là vì tôi cũng không viết gì nữa hết chứ không phải là không viết lách.
Riêng mình cộng tác vớí chế độ mới thì thực sự thời gian đó tôi cũng không viết, không xuất hiện gì cả.
Mười hai năm sau, đến năm 1987 thì tôi mới viết lại và truyện đầu tiên tôi viết là Mộng, rồi loạt truyện Dị Mộng, Qua Sông, Thằng Bắt Quỷ, một loạt đó được in. Rồi sau đó tập hợp xuất bản thành tập truyện Thằng Bắt Quỷ đó.
ML: Như ông vừa trình bày là ông có vài tác phẩm trong giai đoạn sau năm 1987, vậy cơ quan nào nhận in ấn hoặc xuất bản cho ông những tác phẩm này, thưa ông?
CTB : Một phần lớn truyện của tôi là như truyện Qua Sông, trưyện Thằng Bắt Quỷ, Dị Mộng đăng ngay tại Việt Nam, nhưng mà có vấn đề là vì đăng rồi thì Ban Biên Tập Sông Hương với lại Cửa Việt bị phê phán nặng lắm chứ không phải êm xuôi, nhưng có điều đặc biệt là đến sau nhiều năm, sau độ mấy năm đó, bảy tám năm gì đó, thì nhà xuất bản Hà Nội họ mới in lại Tuyển Tập Truyện Ngắn Việt Nam Thế Kỷ 20 thì không biết tại sao họ lại lấy cái truyện đó họ in vào đó anh à.
ML: Ông có biết gì về tin tức của những nhà văn đồng thời với ông như là Nguyễn Thụy Long hay Nguyễn Thị Hoàng...thì những người này đã được nhà nước đối xử với tác phẩm của họ như thế nào ạ?
CTB: Cái lớp cũ của chúng tôi thì còn lại ở trong nước như chị Nguyễn Thị Hoàng, anh Nguyễn Thuỵ Long, anh Dương Nghiễm Mậu. Anh Nguyễn Thuỵ Long có viết lại nhiều và có đăng trên Khởi Hành, tôi có đọc một loạt truyện anh đăng trên Khởi Hành đó. Chị Nguyễn Thị Hoàng thì sau có viết lại, có in ở Việt Nam một tập dưới dạng gần như hồi ký, rồi sau đó không biết thế nào mà chị lại không viết nữa.
Đặc biệt anh Dương Nghiễm Mậu thì ảnh không viết gì cả, nhưng vừa rồi có in 4 tập truyện của anh, chăc anh cũng biết cái tình hình đó. In ra thì cũng bị đánh lên đánh xuống vậy đó. Tức là cái lớp nhà văn cũ thì người viết lại đăng ở ngoài, người viết lại rồi lại không viết tiếp, người yên lặng rồi được in lại sách, nhưng mà cuốc cùng thì cũng nói chung theo cái từ bây giờ là "cũng có vấn đề".
ML : Còn các tác giả trẻ mà tiểu sử của họ không có vấn đề, nổi bật như Nguyễn Ngọc Tư chẳng hạn, thì ông nhận thấy ra sao, thưa ông?
CTB : Cái lớp anh em họ xuất hiện về sau này, tôi không có đề cập đến quý vị nhà văn nhà nước, tôi không dám đề cập đến quý vị đó. Tuy không dám thế thôi, có một ẩn dụ chứ không phải là sợ đâu, là vì quý vị đó được nói tới nhiều quá thành thử tôi không cần thiết phải nhắc tới.
Tôi chỉ nói ra ở đây cái lớp trẻ, chẳng hạn quý vị các lớp trẻ mà cũng ở trong Hội Nhà Văn, rất là trẻ ví dụ như Trần Thuỳ Mai, cô Nguyễn Ngọc Tư, trong đó tôi thấy trội nhứt là Nguyễn Ngọc Tư. Cổ là người Nam, cổ rất là còn trẻ mà bút pháp rất là sắc sảo cũng nói lên được một số tình hình xã hội ởtrong nước như thế này đây, nhưng mà khi cổ in ra thì cũng bị đánh lên đánh xuống vậy. Nhưng tôi thấy đây cũng là tài năng.
Trong cái toàn cảnh này thì không có ngòi bút nào viết hết nổi đâu anh ạ, kể cả những tài năng lớn cũng không thể viết hết, bởi vì nó có nhiều cái giới hạn quá đi.
ML : Có một lớp trẻ khác đã chọn cho họ con đường đối kháng bằng ngòi bút với chế độ, thì ông có ý kiến gì không, thưa ông?
CTB : Các anh em trẻ như anh Nguyễn Viện, anh Trần Tiến Dũng, hoặc là nhóm của anh Bùi Chát, Lý Đợi thì tôi thấy nhóm đó là một nhóm tiến bộ và thật sự họ có tài năng, cộng thêm với tài năng là họ cũng khá can đảm.
Tất cả anh em đó sống trong nước này, thay vì các ảnh nghiêng người một chút thì sống ổn định hơn, nhưng mà các anh đó thì tôi thấy là tốt đấy, cũng thẳng lưng lên để đi và có những cái gì đương đầu thì tính sau, nhưng mà họ yêu chuộng tự do, dám viết. Tôi thấy điều đó thì tôi cũng rất là mong.