Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

NGÀY ẤY – TÔI ĐÃ GẶP ÔNG LINH PHƯƠNG TÁC GIẢ BÀI THƠ PHỔ NHẠC “ KỶ VẬT CHO EM “

NGÀY ẤY – TÔI ĐÃ GẶP ÔNG LINH PHƯƠNG TÁC GIẢ BÀI THƠ PHỔ NHẠC “ KỶ VẬT CHO EM “ - Nguyễn Thụy Bích Hạnh -
Tôi nhớ ngày ấy, vào những năm cuối thập niên 60. Tôi học trường nữ trung học Gia Long ( một trong những trường công lập nổi tiếng nhất Sài Gòn như : Trường nữ trung học Gia Long, nữ trung học Trưng Vương…), tôi đã đọc thơ của nhà thơ Linh Phương. Đó là năm 1967, tôi đọc thơ ông trên những tờ nhật báo, tuần san hay bán nguyệt san phát hành tại thủ đô Sài Gòn. Đám nữ sinh trường tôi, trường Trưng Vương, trường nữ trung học Lê Văn Duyệt mấy đứa bạn tôi đều mê thơ ông.Thường thường, những chiều chúng tôi đi ngang ngã sáu Sài Gòn nơi phát hành toàn bộ báo chí, giở từng tờ báo để xem có thơ Linh Phương mới mua. Mà ngày nào như ngày nấy, thơ ông đăng thường xuyên ít nhất trên 3 tờ báo. Tôi thích bài thơ “ Phượng Sài Gòn “ đăng trên nhật báo “ Ngôn Luận “ hay bài “ Áo tím mùa thu “ hay những bài thơ đăng trên báo “ Báo Đen “ do thi sĩ Nguyên Sa phụ trách. Dễ thương nhất là những bài “ Napoléon và Joséphine “ ; “ Trương tiểu thư “. Với tên Đoàn Đình Tây Phố hoặc Phạm Nguyễn Hà Đông. Đám nữ sinh chúng tôi chép thơ ông trong những quyển tập dày, trình bày thật đẹp và viết chữ thật cẩn thận.Trường Gia Long tôi có bút nhóm Áo Trắng do Uyên Mai , Hoàng Oanh …; còn Trưng Vượng thì nhóm “ Hoa Phượng “ với Uyên Ly, An Khanh. Riêng ông là trưởng nhóm Văn nghệ Hoa Đông Phương-một nhóm mà nữ chiếm ưu thế. Tôi vẫn nhớ, tôi gặp ông trong trường hợp như là một định mệnh rất tình cờ. Tôi từ bến xe bus bước qua vòng xoay Quách Thị Trang, ông chạy xe Honda trờ tới, tôi bước lui. Thế là, ông không thể nào tránh cho được , ông đụng tôi té xuống đường. Ông lật đật dựng xe đỡ tôi đứng lên. Tôi nhìn ông, người chiến binh thật oai hùng ( đa số nữ sinh thời bấy giờ rất thích là người yêu của lính ), quân phục rằn ri sóng biển, mũ nhung xanh với phù hiệu Thủy Quân Lục Chiến và phiên hiệu tiểu đoàn “ Thần Ưng Cảm Tử “. Bảng tên “ Linh Phương “ màu đen lóng lánh kim tuyến .Ông rất đẹp trai, khuôn mặt trẻ rất trẻ và dễ thương vô cùng.Ông không ngớt xin lỗi tôi khi khuỷu tay áo dài trắng tôi bị rách , khuỷu tay tôi rướm máu. Tôi tức cười, vì ông chỉ biết xin lỗi tôi thôi. Ôi ! Tại sao không nói gì khác hơn nhỉ ? Tôi nói : - Ông chỉ biết xin lỗi em thôi à ? Lúc này ông mới cười : - Vậy tôi biết làm sao bây giờ ?; “ Tay áo em rách rồi, ông tính sao ? “. Ông gãi đầu. Thấy tội nghiệp ông quá, người lính Cọp Biển ngoài chiến trường dữ dằn cách chi mà ở hậu phương, trước con gái ông lại hiền lành như cục bột.” Thôi, ông đi đi ông Linh Phương tác giả Kỷ Vật Cho Em. Em rất hân hạnh được gặp ông, hân hạnh dù bị rách tay áo .Bởi tụi bạn em nói ông rất kiêu ngạo, mấy lần tụi nó gặp ông , tụi nó chào mà ông ngó lơ đi luôn “: “ Cô lên xe tôi đưa cô về “. “ Dạ thôi, em đang bận vào chợ Bến Thành mua chút vật dụng. Hẹn ngày gặp lại ông nhé ! “.” Cám ơn cô nhé “. Đó là lần tôi gặp ông đầu tiên cũng là lần cuối cùng. Ông đánh trận liên miên, nay chỗ này,mai chỗ khác. Người lính tác chiến như ông ít khi thong thả ở Sài Gòn như những người lính khác. Mấy lần, tôi đến hậu cứ Tiểu đoàn của ông, nhưng lần nào ông cũng hành quân, tôi thì đang học Văn khoa, không thời gian theo gót giày saut bốn vùng chiến thuật của binh chủng ông. Những ngày cuối tháng 3- 4 năm 1975, nghe tin một nhóm quân nhân Thủy Quân Lục Chiến tự sát chết tập thể tại bãi biển vì không đầu hàng đối phương, tôi đã khóc. Không biết ông còn sống hay đã chết trong những người anh hùng kia. Ông Linh Phương ơi ! Một lần gặp ông như là một định mệnh, em luôn nhớ đến khuôn mặt ông, khuôn mặt thật thánh thiện như tấm ảnh anh mặc quân phục chụp năm 1970. Em luôn cầu nguyện cho ông chân cứng đá mềm trên bước đường quân ngũ. Ông là người của công chúng, một nhà thơ tài hoa có một tác phẩm bất hủ làm rúng động giới yêu thơ, yêu nhạc trong chiến tranh Việt Nam. Em cầu nguyện cho ông sẽ sống, dù phải sống trong đau khổ của những người lính tan hàng. Ông sống trong lòng công chúng, và đã gần nửa thế kỷ trôi qua “ Kỷ Vật Cho Em “ vẫn bất tử . Bây giờ, em được biết ông còn sống, còn khỏe mạnh là em rất vui-người lính anh hùng ngày xưa không bao giờ chết. Cám ơn ông đã để cho đời một tác phẩm sống mãi theo thời gian. .

Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2015

MỐI TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ LINH PHƯƠNG ?



MỐI TÌNH CUỐI ĐỜI CỦA NHÀ THƠ LINH PHƯƠNG ?
- Mũ Xanh Hoài Anh -

Mối tình của ông và người xưa đã không thể nào châu hoàn hợp phố sau hơn 40 năm chia cắt, mỗi người có một cuộc sống riêng, một cuộc đời riêng. Biết tin nhau là đã 36 năm mất nhau giữa thời loạn lạc. Biết tin nhau là biết rằng dòng đời hai ngã : Trần Thị Thu Hồng hạnh phúc bên chồng con bên kia bờ đại dương, người xưa sống đời gấm hoa nhung lụa ; còn nhà thơ Linh Phương-ông vất vả mưu sinh ở quê nhà khi học tập cải tạo trở về. Mưu sinh gì với hai bàn tay trắng ? Mưu sinh gì lúc tuổi thanh xuân từ giã áo học trò mặc đồ quân nhân lên đường ra mặt trận có biết nghề nghiệp đâu ? Mưu sinh gì đối với kẻ bại trận không chốn nương thân ? Chiến tranh và tù đày đã “ đánh cắp “ thời tuổi trẻ mộng mơ của số phận một con người,trong triệu số phận con người lớn lên ở Miền Nam Việt Nam.




Tôi không hiểu lúc biết được tin nhau hơn 36 năm dài đăng đẵng, người xưa của ông có giúp đỡ ông những ngày cuối đời không ? Những lúc bệnh tật, ốm đau họ còn nghĩ về nhau khi thuở thanh xuân không đến với nhau được, và tuổi xế chiều cũng biền biệt phân ly ? Hệ lụy của chiến tranh Việt Nam vẫn còn sắp hàng theo ngần ấy số phận con người qua cuộc bể dâu. Thời gian 36 năm như một cột mốc tình yêu : hội ngộ rồi chia ly. Chiến tranh họ có một tình yêu nồng thắm, hòa bình-tình yêu của họ trở nên lạnh lùng với một xã hội thực dụng hôm nay.

Năm 2014, ông có một mối tình phần đời còn lại của mình- một mối tình mà tôi và những người ái mộ ông, hy vọng ông sẽ thực sự được hạnh phúc bên người phụ nữ xinh đẹp mang tên Trầm Kiều.Theo như được biết qua mạng xã hội, tình yêu họ bắt đầu từ cuộc họp mặt văn nghệ ở Bến Sông Trăng – Bình Quới ( Sài Gòn ). Hình ảnh họ bên nhau ở Sài Gòn thật dễ thương, thật tình tứ như thời mới lớn Linh Phương, thời mới lớn của Trầm Kiều, người đàn bà của nhà thơ nổi tiếng Linh Phương.

“…Sợ tình kiều sẽ hóa hư không

Nên qua ngõ chung cư tìm lại

Mùi ngực em anh còn giữ mãi

Lúc lên xe tạm biệt Sài Gòn…”

( Trầm- Linh Phương )

Hai cuộc đời tìm lấy nhau qua quá khứ bão giông, họ hiểu thế nào là hạnh phúc, thế nào là nương tựa nhau khi họ không còn ở tuổi mộng mơ. Tình yêu sẽ khiến họ trẻ lại, niềm vui sẽ khiến họ quên đi những gì khó khăn trong cuộc sống đời thường. Tình yêu qua thơ, qua hình ảnh họ chụp thật thơ mộng, đầy thương nhớ như chưa hề biết nhớ thương

“…Môi trầm đỏ

lúc anh hôn

Ngã nghiêng

trời đất Sài Gòn

đêm qua

Đêm qua

trăng xế nguyệt tà

Có hai người nói :

“ Mình là của nhau “…”

( Đêm qua ở Sài Gòn- Linh Phương )

Họ có nhiều kỷ niệm, nơi thật nhiều kỷ niệm là Thành phố Rạch Giá , là cà phê Cỏ Đá, là Trung Nguyên,là Elle , là Gossif , là phòng trà …Có lẽ thời gian này hạnh phúc  thật hạnh phúc của nhà thơ nhiều lận đận, gian nan.

Mấy mươi năm thoáng chốc chẳng khác giấc chiêm bao, giấc chiêm bao cả một đời người. Ông vừa là một chiến hữu, vừa là người tôi ngưỡng mộ từ hồi còn khoác áo chiến y. Ông-một nhà thơ nổi tiếng “ Kỷ Vật Cho Em “ từ đầu thập niên 70, đã 45 năm trôi qua, nhưng tên ông vẫn không phai nhòa trong lòng người yêu nhạc, yêu thơ. Định mệnh ông vận vào Kỷ Vật Cho Em, vận vào vận mệnh đất nước. Ông-nhà thơ hiền lành, dí dỏm, hài hước mà anh em văn nghệ sĩ đều công nhận. 45 năm có thể chưa nhạc phẩm phổ thơ nào được nhắc nhớ, được sống theo thời gian gần nửa thế kỷ như “ Kỷ Vật Cho Em “. Hai đồng tác giả bây giờ chỉ còn lại ông, ông vẫn còn phong độ, vẫn còn trẻ trung so với tuổi của ông.
Cuối năm 2014


TÁC PHẨM LINH PHƯƠNG
QUẾ TRẦM MỘT THUỞ


Thương miệng em cười-môi em đỏ
Nhớ Sài Gòn anh nhớ gì đâu
Cứ dặn lòng không còn nhớ nữa
Quế xa trầm nên trái tim đau

Anh ngậm ngãi tìm em trăm bận
Ngóng đường xe mấy nẻo thị thành
Hơn nửa đời gian nan - lận đận
Gặp em rồi đã bạc tóc anh

Gặp em rồi quế trầm một thuở
Trong mắt anh giờ cũng thôi buồn
Trong mắt em sầu giăng mây khói
Ngày hôm qua mây khói đầy hồn

Ngày hôm qua con đường phố chợ
Thương gì đâu cái miệng em cười
Thương gì đâu đôi môi em đỏ
Lúc ra về anh nhớ khôn nguôi

Lúc ra về mùi em theo gió
Thoáng nhẹ bay quanh chỗ anh nằm
Mùi em thơm dỗ dành anh ngủ
Mộng thấy trầm khe khẽ kiều…hôn

NGỰC TRẦM THƠM
Hôm uống rượu bên đường với bạn

Trái tình anh rụng xuống ngực trầm

Gió Sài Gòn bỗng dưng phiêu lãng

Thổi nhẹ nhàng buốt lạnh khuôn trăng



Anh nắm chặt bàn tay thon nhỏ

Bàn tay xinh năm ngón dịu mềm

Khi xa rồi mà anh còn ngỡ

Ly bia chiều ẩn hiện bóng em



Nặng lòng chi đời anh khốn nạn

Bao nhiêu năm hiu quạnh một mình

Bao nhiêu năm cuối trời lận đận

Bụi giang hồ đã bạc tóc xanh



Em đó ư ! Hồng nhan tri kỷ

Những ngày vui ngắn ngủi vô cùng

Hồn anh giờ khác chi biển động

Mơ chiều tàn êm ả đêm sông



Em đó ư ! Mùi ngực thơm trầm

Thương mãi thương hoài câu tạm biệt

Môi mật ngọt anh thèm da diết

Nụ hôn nồng say đắm trao nhau



Em đó ư ! Hỡi người yêu dấu

Hương áo bay theo phố ngậm ngùi

Lên xe tiễn . Trời ơi ! Đau nhói

Mắt em buồn vời vợi khôn nguôi



Về đây ngửa mặt nhìn mây trắng

Mây trắng bay anh nhớ Sài Gòn

Nhớ tóc em sợi dài-sợi vắn

Buộc tim anh vào trái tim trầm

TRẦM
-Linh Phương-
Nhớ Sài Gòn anh nhớ chung cư

Nhớ con đường nhớ đôi mắt liếc

Tóc trầm thơm giữa trời xanh biếc

Môi trầm thơm Cao Đạt nắng chiều



Mấy mươi năm đời vốn buồn hiu

Ngày xế bóng thương kiều anh đợi

Chiếc váy hồng - câu thơ viết vội

Lúc yêu nhau thơ cũng yêu người



Lúc yêu nhau yêu chỗ em ngồi

Bên ly cà phê - ca sĩ hát

Đêm phòng trà khuya lơ khuya lắc

Ra về rồi phố vắng ngủ yên



Vòng tay anh ôm vòng eo em

Nghe hơi thở hương trầm theo gió

Níu hương lại, buông trầm đâu nỡ

Trái tim anh cứ nhảy Soul hoài



Hình như lòng vừa chớm heo may

Thu nhẹ rắc phấn vàng lên áo

Anh nhẹ hôn đôi bàn chân sáo

Mười ngó sen trắng muốt ngón trầm



Sợ tình kiều sẽ hóa hư không

Nên qua ngõ chung cư tìm lại

Mùi ngực em anh còn giữ mãi

Lúc lên xe tạm biệt Sài Gòn



Quê nhà anh vời vợi nước sông

Mỏi mắt nhìn đường xa vạn dặm

Chân mây. Ừ ! Chân mây đã trắng

Khói sầu bay khuất nẻo thị thành
- Linh Phương -

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

CUNG TÍCH BIỀN - CON NGƯỜI, CUỘC ĐỜI VÀ CÁC SÁNG TÁC




Mặc Lâm
 
Nhà văn Cung Tích Biền tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1937 tại Thăng Bình, Quảng Nam. Từ 1970 là giảng viên Trường Sĩ Quan Hành Chánh Sài Gòn. Ông giải ngũ năm 1973 với cấp bậc Đại úy. Sau đó làm Giáo Sư Thỉnh Giảng Viện Đại Học Cộng Đồng Quảng Đà, Đà Nẵng.
Là một nhà văn độc lập, ông có truyện và thơ đăng trên các báo từ Năm 1958, với nhiều bút hiệu khác nhau lúc ban đầu như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh trước khi có bút hiệu Cung Tích Biền.
Bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật tháng 3-1966 tại Sàigòn, với truyện ngắn Ngoại Ô Dĩ An và Linh Hồn Tôi.
Nhanh chóng có truyện đăng trên hầu hết các nhật báo, tuần báo, tập san văn học nghệ thuật có giá trị, trước và sau 1975, trong và ngoài nước. Cung Tích Biền đang sống tại Đồng Ông Cộ, Sài Gòn, Việt Nam.

CUỘC ĐỜI THAY ĐỔI   

 

Trong câu chuyện với chúng tôi ngày hôm nay, nhà văn cho biết hoàn cảnh sống của ông trong lúc này, tức là sau hơn ba mươi năm sau ngày 30 tháng 4 bảy lăm:
Nhà văn Cung Tích Biền : Tôi thì tôi sống khá bản lĩnh cho nên tôi luôn luôn bình tĩnh trước mọi việc dù đó là cái ám ảnh những sự khốn nạn, ngay cả bệnh hoạn như trong tình trạng tôi bị ung thư bây giờ chẳng hạn tôi cũng có sự chế ngự riêng. Có lẽ về mặt tâm linh tôi cũng khá tốt.
ML : Thưa ông, xin được phép chia sẻ với nhà văn những khó khăn mà ông gặp trong đời sống hàng ngày từ nhiều năm qua. Chúng tôi cũng xin cảm ơn ông tuy rằng rất là khó khăn song vẫn chấp nhận nói chuyện với chúng tôi trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật ngày hôm nay. Thưa ông, với những khó khăn này thì làm cách nào mà ông và gia đình có thể vượt qua được khi ông chấp nhận tiếp tục cầm viết trong chế độ không cho phép xuất bản tác phẩm của mình?
CTB : Nói về sự khốn khổ ở đây thì vô cùng! Khốn khổ về vật chất thì tôi đã từng dạy con tôi từng sống với khốn nạn, cả nhà tôi cũng nói như vậy thôi. Cái khổ đó thì với chuyện đời nó cũng bình thường thôi. Có điều cái mà nó dằn vặt về trí não, về tâm linh, cái thất vọng về mặt tư tưởng, cái đó mới đáng làm cho mình bận tâm, thưa anh ạ. Sau 75 thì hoàn toàn có cái gì gần như đổ vỡ và tuyệt vọng!
ML : Được biết là ông đã có kinh nghiệm về giai đoạn chín năm trong vùng kháng chiến và cũng là người sau đó có mặt tại Miền Nam với một vị trí khá cao là giảng viên của Trường Sĩ Quan Hành Chánh Sài Gòn. Ông có so sánh gì về hai hoàn cảnh sống khác nhau này ạ?
CTB : Tôi đã từng sống 9 năm trong vùng kháng chiến và chính trong thời kháng chiến tôi cũng đi đánh đàn đánh nhạc, sống trong cái tâm trạng vui của tuổi trẻ, nhưng mà sau này nhìn lại tôi thấy như một giấc mộng vậy đó. Thành ra tôi ở cái ranh giới khó về lắm chứ không phải tôi sống hoàn toàn trong vùng quốc gia.
Sau này sống trong vùng quốc gia thì vừa trưởng thành vừa được dịp đi học, được mở rộng, được đi học thì mình được tiếp cận với một thế giới khác hơn.
Cuộc chiến bắt đầu thì tôi lại lâm vào đó, tôi phải đi lính trong quân đội VNCH, rồi mình cũng phải tham dự vào những chuyện gọi là lý tưởng thì cũng không hoàn toàn phải là của lý tưởng, thất vọng thì hoàn toàn cũng không phải là thất vọng, bởỉ vì hồi đó chính quyền Miền Nam có cái dung dưỡng được mình và mình cũng sống trong môi trường tương đối tự do: tự do viết, tự do sáng tạo, tự do in ấn.
Rồi ngay trong đời sống quân đội, dù có đi lính đi nữa thì cũng có cái thoải mái của quân đội. Thật sự chế độ cũ cũng có vài cái mà có lẽ mình cũng không nên bàn vì anh em cũ họ cũng có thấy cái đó. Anh em ở chiến trường họ cũng thấy những cái vướng mắc, những cái u bướu trong một chế độ, chứ thật sự 20 năm, 21 năm Miền Nam cũng có cái rất vui, có những cái hạnh ngộ, có những đau buồn.

HOÀN CẢNH XÃ HỘI  

 

ML : Trong tác phẩm mang tên Bạch Hóa ông đã chia sẻ rất nhiều những cảm nhận sau khi hòa bình lập lại, tức là năm 75. Cho tới nay thì những nhận định này có thay đổi ít nhiều gì do hoàn cảnh xã hội hay không, thưa ông?
CTB : Tôi luôn luôn nghĩ cũng như anh em hồi đó sống trong khói lửa ai cũng mơ một đất nước thống nhất và hoà bình. Đó là cái giấc mơ chung, ước mơ chung, bởi vì thật sự không ai kham nổi cuộc chiến mà nó vượt sự phi lý, một cuộc nội chiến khó giải thích về cái điểm vô luân của nó như tôi viết trong Bạch Hoá.
Thành ra cái khao khát thật sự hồi đó là mong được hoà bình và đất nước thống nhất, rồi sau đó cái gì sẽ tính sau, bên nào cũng được nhưng mà phải ngưng tiếng súng cho bớt đổ máu, cho hoà bình, đất nước một nhà.
Nhưng cái thống nhất một nhà này là do của Hà Nội chứ không phải của Sài Gòn thành ra chúng tôi lại cũng gặp thêm một khổ nạn nữa, bởi vì bất cứ ở đâu thì chúng tôi cũng là người trong hàng ngũ chiến bại, không đầu hàng cũng bắt buộc phải buông súng.
ML: Ông có thể cho biết những hoạt động viết lách của ông sau năm 1975 như thế nào không ạ?
CTB: Thời gian rất dài từ 75 đến 87 thì tôi không viết lách gì hết. Tôi không viết lách gì hết nhưng trong thời gian đó tôi cũng rất cẩn thận là vì tôi cũng không viết gì nữa hết chứ không phải là không viết lách.
Riêng mình cộng tác vớí chế độ mới thì thực sự thời gian đó tôi cũng không viết, không xuất hiện gì cả.
Mười hai năm sau, đến năm 1987 thì tôi mới viết lại và truyện đầu tiên tôi viết là Mộng, rồi loạt truyện Dị Mộng, Qua Sông, Thằng Bắt Quỷ, một loạt đó được in. Rồi sau đó tập hợp xuất bản thành tập truyện Thằng Bắt Quỷ đó.
ML: Như ông vừa trình bày là ông có vài tác phẩm trong giai đoạn sau năm 1987, vậy cơ quan nào nhận in ấn hoặc xuất bản cho ông những tác phẩm này, thưa ông?
CTB : Một phần lớn truyện của tôi là như truyện Qua Sông, trưyện Thằng Bắt Quỷ, Dị Mộng đăng ngay tại Việt Nam, nhưng mà có vấn đề là vì đăng rồi thì Ban Biên Tập Sông Hương với lại Cửa Việt bị phê phán nặng lắm chứ không phải êm xuôi, nhưng có điều đặc biệt là đến sau nhiều năm, sau độ mấy năm đó, bảy tám năm gì đó, thì nhà xuất bản Hà Nội họ mới in lại Tuyển Tập Truyện Ngắn Việt Nam Thế Kỷ 20 thì không biết tại sao họ lại lấy cái truyện đó họ in vào đó anh à.
ML: Ông có biết gì về tin tức của những nhà văn đồng thời với ông như là Nguyễn Thụy Long hay Nguyễn Thị Hoàng...thì những người này đã được nhà nước đối xử với tác phẩm của họ như thế nào ạ?
CTB: Cái lớp cũ của chúng tôi thì còn lại ở trong nước như chị Nguyễn Thị Hoàng, anh Nguyễn Thuỵ Long, anh Dương Nghiễm Mậu. Anh Nguyễn Thuỵ Long có viết lại nhiều và có đăng trên Khởi Hành, tôi có đọc một loạt truyện anh đăng trên Khởi Hành đó. Chị Nguyễn Thị Hoàng thì sau có viết lại, có in ở Việt Nam một tập dưới dạng gần như hồi ký, rồi sau đó không biết thế nào mà chị lại không viết nữa.
Đặc biệt anh Dương Nghiễm Mậu thì ảnh không viết gì cả, nhưng vừa rồi có in 4 tập truyện của anh, chăc anh cũng biết cái tình hình đó. In ra thì cũng bị đánh lên đánh xuống vậy đó. Tức là cái lớp nhà văn cũ thì người viết lại đăng ở ngoài, người viết lại rồi lại không viết tiếp, người yên lặng rồi được in lại sách, nhưng mà cuốc cùng thì cũng nói chung theo cái từ bây giờ là "cũng có vấn đề".
ML : Còn các tác giả trẻ mà tiểu sử của họ không có vấn đề, nổi bật như Nguyễn Ngọc Tư chẳng hạn, thì ông nhận thấy ra sao, thưa ông?
CTB : Cái lớp anh em họ xuất hiện về sau này, tôi không có đề cập đến quý vị nhà văn nhà nước, tôi không dám đề cập đến quý vị đó. Tuy không dám thế thôi, có một ẩn dụ chứ không phải là sợ đâu, là vì quý vị đó được nói tới nhiều quá thành thử tôi không cần thiết phải nhắc tới.
Tôi chỉ nói ra ở đây cái lớp trẻ, chẳng hạn quý vị các lớp trẻ mà cũng ở trong Hội Nhà Văn, rất là trẻ ví dụ như Trần Thuỳ Mai, cô Nguyễn Ngọc Tư, trong đó tôi thấy trội nhứt là Nguyễn Ngọc Tư. Cổ là người Nam, cổ rất là còn trẻ mà bút pháp rất là sắc sảo cũng nói lên được một số tình hình xã hội ởtrong nước như thế này đây, nhưng mà khi cổ in ra thì cũng bị đánh lên đánh xuống vậy. Nhưng tôi thấy đây cũng là tài năng.
Trong cái toàn cảnh này thì không có ngòi bút nào viết hết nổi đâu anh ạ, kể cả những tài năng lớn cũng không thể viết hết, bởi vì nó có nhiều cái giới hạn quá đi.
ML : Có một lớp trẻ khác đã chọn cho họ con đường đối kháng bằng ngòi bút với chế độ, thì ông có ý kiến gì không, thưa ông?
CTB : Các anh em trẻ như anh Nguyễn Viện, anh Trần Tiến Dũng, hoặc là nhóm của anh Bùi Chát, Lý Đợi thì tôi thấy nhóm đó là một nhóm tiến bộ và thật sự họ có tài năng, cộng thêm với tài năng là họ cũng khá can đảm.
Tất cả anh em đó sống trong nước này, thay vì các ảnh nghiêng người một chút thì sống ổn định hơn, nhưng mà các anh đó thì tôi thấy là tốt đấy, cũng thẳng lưng lên để đi và có những cái gì đương đầu thì tính sau, nhưng mà họ yêu chuộng tự do, dám viết. Tôi thấy điều đó thì tôi cũng rất là mong.

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2012

NGUYÊN SA - THẾ GIỚI CỦA TÌNH YÊU MƠ MỘNG



*Bài của Thái Tú Hạp

Miền Trung của những năm 1960 đến 1963, không khí chiến tranh mỗi ngày mỗi khốc liệt bủa vây ở nông thôn. Ở thành phố ngột ngạt căng thẳng những cuộc xuống đường của sinh viên. Tuổi trẻ cảm thấy buồn bã cô đơn. Trong những quán cà phê, những chàng thanh niên để tóc dài ngồi gục đầu trên những trang sách triết của Jean Paul Sartre, của Camus...bồng bềnh đắm đuối trong không khí đầy bi quan nhạc Trịnh Công Sơn... Khói thuốc mù mịt...bên ly cà phê phin nhỏ giọt như máu đen sầu thảm...và buồn nôn. Ở những lớp thanh niên thanh nữ khác đi tìm lối thoát nội tâm thực tiễn hơn trong các tạp chí Văn, Nghệ Thuật, Sáng Tạo, Hiện Đại, Bách Khoa, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới... xuất bản ở Saigon gởi ra. Những luồng gió văn chương nầy đã thổi tới những cánh đồng hoa rực rỡ, những say mê đằm thắm mới mẻ, đã là những giòng sông êm mát giữa mùa hạ oi nồng. Là lúc những thủy triều dâng lên theo vầng trăng tỏa sáng. Đã làm vơi đi những hình ảnh Dũng - Loan trong Đoạn Tuyệt, mối tình đầy siêu nhiên thánh thiện trong Hồn Bướm Mơ Tiên, xa dần Trống Mái... Và thực sự đã trấn áp những say mê của Tự Lực Văn Đoàn. Tuổi trẻ đã bắt đầu yêu những sáng tác văn thơ của Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Sỹ Tế, Hoàng Trúc Ly, Thanh Nam...Và nhất là NGUYÊN SA. Sự xuất hiện những bài thơ tình của Nguyên Sa thật đúng lúc, đã lôi cuốn nỗi cô đơn chung vào cái thế giới thơ mộng của tình yêu: 


...Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
Những lúc em cười trong đêm khuya
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mù ai thở để sương tan
Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc...


Sự đau thương và hủy diệt cận kề tình yêu có phải là ly rượu hồng thoáng say trong chốc lát để rồi chia ly biền biệt: 


...Không có anh nhỡ ngày mai em chết
Thượng Đế hỏi anh sao tóc em buồn
Sao tay gầy, sao đôi mắt héo hon
Anh sẽ phải cúi đầu đi về địa ngục...
(Cần Thiết)


Cũng như Xuân Diệu thời kỳ tiền chiến đã biết chọn cho mình một chỗ đứng riêng rẽ, đó là thế giới của tình yêu. Và chính sự lựa chọn khôn ngoan nầy tên tuổi Xuân Diệu đã vượt thoát ra khỏi giới hạn không gian thời gian và ở trong tâm hồn nhiều thế hệ. Từ khi loài người biết yêu nhau là lúc những vần điệu ca ngợi tình yêu trở thành vĩnh cửu. Ngay trong kho tàng văn học bình dân Việt Nam, những câu ca dao, những câu hát quan họ, những bài hò Huế, hò Quảng...đề cập đến tình yêu đều đã khắc sâu trong tiềm thức dân gian. Cho đến bây giờ, ít ai quên được những ý tình thật dễ thương của đôi trai gái nơi thôn dã: 


...Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay...

...Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân...

...Hôm qua tát nước đầu đình
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà...


Mỗi thi sĩ Việt Nam bước vào thế giới vần điệu đều đã hơn một lần đi vào ngưỡng cửa tình yêu. Có tình yêu mới tạo nên cảm xúc để sáng tác. Từ thuở nhìn em tóc để đuôi gà, nhảy từng bước chân chim trên thảm cỏ xanh sân trường đã làm cho tâm hồn chàng thanh niên ngẩn ngơ và đã bắt đầu cảm thấy cuộc đời chớm vui buồn vu vơ: 


...Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng
Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay
Trời nắng ngạt ngào...tôi ở lại đây
Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng

Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám?
Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba
Tôi phải van lơn ngoan nhé, đừng ngờ...
Tôi phải dỗ như là...tôi đã nhớn

...Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím...
(Tuổi Mười Ba)


Qua bao nhiêu thử thách thời gian, trong thế giới thơ tình của Nguyên Sa, nhiều người đều công nhận “Áo Lụa Hà Đông” có một vị trí đáng kể trên văn đàn. Khi những Thái Thanh, Lệ Thu, Duy Trác cất tiếng hát mọi người đều nghĩ đến Nguyên Sa. Ngô Thụy Miên hòa nhập thực sự nỗi rung động khi đưa bài thơ này vào thế giới âm nhạc. Và đã thăng hoa tuyệt vời lan xa trong yêu thích của quần chúng: 


...Nắng Saigon anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bày vội vã vào trong hồn mở cửa

Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn
Thơ học trò anh chất lại thành non
Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu

Em không nói đã nghe từng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh đã trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại

...Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng...
(Áo Lụa Hà Đông)


Thơ Nguyên Sa được xem như thời thượng của tuổi trẻ thuở đó. Thể thơ tự do Nguyên Sa dùng rất mới lạ. Gọi người tình là “Con chó ốm”, là “con mèo ngái ngủ trên tay anh” một lối xưng hô trìu mến rất là Tây Phương: 


...Và em sẽ cười phải không em
Em sẽ không buồn như một con chó ốm...
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận sao chả là nước biển...


Nguyên Sa đã du học tại Paris đến cuối 1956 trở về từ tả ngạn sông Seine, từ mái trường danh tiếng Đại Học Sorbonne. Trong mỗi con người đều có sự mâu thuẫn kỳ lạ “đứng núi nầy trông núi nọ”, nao nức trở về quê hương và khi đã sống với quê hương lòng lại vương vấn kinh thành ánh sáng. Không biết đã có đôi mắt xanh nào làm cho nhà thơ “Áo Lụa” tương tư? 


...Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim

Paris có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một giòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?

...Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
Chả biết tay ai làm lá sen...


Ngôn ngữ thật mới, thật lả lướt một cõi an bình mộng mơ tạo nên một thế giới diễm tình, chiến tranh bị đẩy lùi xa ngàn dặm: 


...Em có hoa lan giữa tóc thề
Mặt trời xen kẽ đón tay che
Phương Đông vào chỗ hồng trên má
Chiều xuống lưng chừng mái tóc thưa...
(Hải Âm)

...Anh nhớ em ngồi áo trắng thon
Ngàn năm còn mãi lúc gần quen
Em gầy như liễu trong thơ cổ
Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường...
(Em Gầy Như Liễu Trong Thơ Cổ)

...Thiên đường có chỗ màu đen
Anh nằm nghe thấy vẫn còn tiếng mưa
Tiếng trời gõ nhịp tiếng trưa
Tiếng cho sâu thẳm tiếng khuya tuyệt vời...
(Bất ngờ)


Trước thời kỳ 75, thỉnh thoảng tôi mới có cơ hội vào Saigon và mỗi lần như thế đều gặp Du Tử Lê, Viên Linh, Hồ Trường An, Huy Tưởng...và thường nhắc nhở đến nhà thơ Nguyên Sa và dĩ nhiên đều ca ngợi anh rất thành công và ngoạn mục về nhiều phương diện như dạy học, làm báo, làm thơ... Sang Hoa Kỳ với đời sống mới lưu vong nơi đất khách, nhà thơ Nguyên Sa vẫn lẫy lừng ở nhiều sinh hoạt như chủ nhiệm, chủ bút Tạp Chí Đời, Phụ Nữ Mới và Tuần Báo Dân Chúng. Giám đốc Trung tâm băng nhạc Đời với những tuyển chọn ca sĩ, nhạc phẩm rất công phu và khởi sắc hơn các trung tâm khác.

Trong một bài viết về nhà thơ Nguyên Sa, trên tạp chí Văn, nhà văn Mai Thảo đã nhắc đến những kỷ niệm:

”...Một đêm tháng trước, nhà hàng Doanh Doanh của vợ chồng Thái Tú Hạp trên Đại Lộ Hoàng Hôn đãi cơm tối ra mắt thân hữu tuyển tập Thơ Văn Hải Ngoại. Tới phần thơ nhạc tạp lục, sau tiếng hát Khánh Ngọc và tiếng đàn Nguyễn Đức Quang, tôi có đi cùng Nguyên Sa lên máy vi âm. Đứng cạnh, chia nhau mỗi thằng đọc một khúc thơ tình của bang trưởng Phúc Kiến. Đọc thơ. Đùa nghịch với thơ. Thơ anh nằm xem tuồng cải lương, em không quần không áo. Thơ năm thằng cùng tắm giờ đứng tắm một mình. Đọc thơ. Đùa nghịch với thơ. Tôi vẫn thích lắm những phút đùa nghịch như vậy. Cho thoải mái không khí, thân mật bạn bè. Cho đêm xuống đã xuống với nhân thế ở ngoài kia, đêm tối bớt buồn, và bớt lạnh với người. Đùa nghịch, riễu bạn, riễu luôn cả chính mình. Để câu nói Nguyên Sa “Chúng mình già hết rồi”. Phải có lúc không đúng. Hoặc một cách nào thôi, tâm hồn ta vẫn trẻ. Mấy phút trước máy vi âm tối đó mà Nguyên Sa gọi hai đứa tôi là Laurel và Hardy, tôi thấy tôi trẻ thật. Nguyên Sa cũng vậy. Mấy phút trước máy vi âm tối đó, tôi thấy lại cái tôi đầu, những ngày Sáng Tạo trẻ trung phơi phới. Và thấy lại cái phần trước sau tôi thích thấy nhất và yêu mến nhất ở Nguyên Sa. Đó là mấy chục năm về trước. Nguyên Sa mới ở Pháp về, Trịnh Viết Thành đem tới. Đưa bài thơ đầu tiên. Và sau đó đã cùng chúng tôi đi vào cuộc phiêu lưu đầy hào hứng tới những chân trời văn chương tuổi trẻ mênh mông...”

Cũng chính trong thời gian này, mỗi cuối tuần chúng tôi đều đón tiếp anh chị Nguyên Sa đến Los Angeles ghé tạt qua Doanh Doanh quán, uống tách trà, nói vài mẩu chuyện vui văn nghệ. Những lúc như thế, tôi khám phá nơi anh những nét trầm tĩnh, đạo mạo đúng cái phong cách nhà giáo, một thi sĩ nhân hậu, một người đàn anh lúc nào cũng nâng đỡ tận tình và hay bênh vực nhau trọn nghĩa đệ huynh. Tuy nhiên, Du Tử Lê nhận xét về Nguyên Sa “ngó vậy mà không phải vậy”. Anh rất tốt với anh em và sẵn sàng bao dung với bằng hữu, nhưng với cuộc đời, với những kẻ chơi xấu anh em, anh sẵn sàng ra chiêu bảo bọc, anh sống rất sòng phẳng, đã từng là Triệu Tử Long trong những trận bút chiến làm kinh hoàng đối thủ. Cõi thơ là cõi đùa chơi với chữ nghĩa. Cuộc đời là những ân oán phân minh. Nếu cần “Áo Lụa” là thanh kiếm trên tay. Nhận xét đó tôi cảm nhận đúng vì ngay trong tuần báo Saigon Times hay Tuyển Tập Thơ Văn Phật Giáo do tôi chủ trương cũng đã vấp phải khuyết điểm khi đăng thơ thiếu sót vài chữ, vài câu làm mất giá trị bài thơ của Nguyên Sa vì không kiểm soát kỹ lưỡng và quá tin vào đả tự viên. Đối với người khác sẽ bực tức ngay, nhưng đối với Nguyên Sa thì không. Anh vẫn giữ nguyên tình cảm, xem như không có gì xảy ra khi đối diện và cũng không bao giờ nhắc đến.
Ngoài những tập thơ Nguyên Sa đã ấn hành, Nguyên Sa cũng đã cho phát hành trường thiên “Giấc Mơ” mà theo ông: “Giấc mơ không phải là tập hồi ký, không phải tiểu thuyết Lịch Sử, cũng không phải Phóng Sự Tiểu Thuyết. Nó cũng không dính dáng một chút nào đến thực tại...được mô tả như những nét tô vẽ sản phẩm tưởng tượng của người viết...”. Nhưng Nguyên Sa vẫn hãnh diện khi đề cập đến hình ảnh: ”...Dân tộc tôi sẽ đứng dậy trên đồng bằng, bay trên núi non, vùng vẫy ngoài biển khơi. Tự Do. “Dòng máu không thể chảy ngoài huyết quản”. Dân tộc tôi đang ước mơ. Tôi vẫn đang ở trong đó. Và tôi đang ước mơ...”.

Không phải chỉ có Nguyên Sa ước mơ mà cả dân tộc từ trong nước đến hải ngoại đều ước mơ được nhìn thấy thanh bình thực sự trở về trên mảnh đất đầy đau thương và nghiệt ngã. Tình yêu vẫn là sức sống mãnh liệt và vĩnh cửu của loài người. Không có cảnh trí nào đẹp và thơ mộng bằng hình ảnh tình yêu hồn nhiên và lãng mạn, nẩy nở trong tâm hồn Dân Tộc, một Dân Tộc mà mỗi công dân sinh ra và lớn lên được nuôi dưỡng bằng chất liệu thi ca, bằng tình thương của Mẹ. Tình yêu vượt thoát lên mọi chủ nghĩa, mọi hận thù, Tình Yêu như đóa hoa nở rộ trong trái tim giữa Con Người và Con Người xinh đẹp như dải Trường Sơn, như những giòng sông Cửu Long, Hương Giang, Hồng Hà đang cuồn cuộn vào biển lớn mùa Xuân bất diệt của Dân Tộc: 


...Anh biết rằng:
Có người khóc vì mừng vui ước hẹn
Có người cười vì tủi cực phôi pha
Anh biết nói làm sao
Nhưng chắc chắn ngàn thu ly rượu quan hà
Sẽ phải chua men vì thiếu người sưởi lạnh
Anh biết nói làm sao
Khi họ gặp nhau (anh đã bảo em)
Như Sông Cửu Long
Về lòng biển cả
Vẫn tiếng sóng về nước chảy triền miên
Vẫn Cửu Long giang mở chín lần cửa rộng
Giòng sông dài dữ dội bản trường ca...


Phải, giòng sông dài dữ dội bản trường ca
Nên sông đã về tràn đầy mắt biển
Sông đã về rửa trắng lòng anh
Đợi từ chín kiếp giao thừa
Đến sáng hôm nay mới được hát giữa giòng sông
Đến sáng hôm nay mới được hát giữa ngày
mùng một Tết...
.
Khi chúng tôi được nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh thông báo về sự ra đi vĩnh viễn của Thi sĩ Nguyên Sa, tôi xúc động thực sự, vì tôi mới điện thoại thăm sức khỏe anh cách đây vài ngày và biết bệnh tình đến với anh trong thời gian hơn năm qua, hành hạ anh đủ chuyện về thể xác. Bệnh thì mặc kệ, anh xem như không có gì xảy ra, như mọi cuộc chơi trong đời sống, anh đã từng bày biện nhiều sáng tạo bất ngờ, gây nhiều ngạc nhiên với mọi người. Thơ của anh gần đây vẫn thấp thoáng tình yêu, nhưng nhẹ nhàng siêu thoát hơn: 

...Tiếng chiều trên ngọn phi lao
Giọng ca em gởi đã vào trong tim
Khi về nhớ ghé ngăn trên
Miệt tâm thất trái đường lên huyệt đào...
(Cuộc Chơi)

Này đây hữu ngạn làm thơ
Còn kia tả ngạn ngồi chờ tin em
Cái người năm ấy em quen
Phân thân nửa ở bên em nửa về,
Cây tây chết ở sơn khê
Cây đông tróc gốc cành chia lá vàng
Một đời mấy nhánh Tầm Dương
Ngàn đêm gọi miết mỗi triền mỗi đau
(Phân Thân)

Bình minh có buổi cũng buồn
Con sông đổi mặt giận hờn bỏ đi
Ta ngồi ở khúc rừng kia
Lúc đo âm hưởng, khi chia lá vàng
Rừng đo với núi chiều ngang
Khi ta tựa núi chỉ còn chỗ cao
Đá to rớt gốc cây đào
Ta mang trả núi, vẫy chào cố nhân...
(Cố Nhân)


Nhiều bài lục bát trong tập ba thơ Nguyên Sa chúng ta tìm thấy những tư duy trầm mặc phương Đông, những ray rứt thiền vị, phảng phất vô vi của Lão, muốn tĩnh lặng như giòng sông nhưng con nước vẫn rạt rào thao thức trăm nhánh vời xa. Cái đùa nghịch dễ thương. Cái gần xa đã hòa nhập. Cái đi về là một nẻo Chân Như. Cái không và có đều vô nghĩa. Cái tiểu và đại đã không còn, thì Niết Bàn và Thiên Đàng cũng chẳng khác nhau chi. Chuông Giáo Đường hay chuông Chùa cũng đều tiếp dẫn hương hồn đến nơi an nghỉ thiên thu.

Khi còn tại thế, anh và anh Mai Thảo là hai người bạn thân chủ trương hai tạp san Văn Học Hiện Đại và Văn lẫy lừng trước 75 ở quê nhà. Người ra đi sau tháng 4.75 và người đến Hoa Kỳ năm 1982, cả hai đều tiếp tục cuộc chơi văn chương tại California, Hoa Kỳ. Ngày anh Nguyên Sa mất đi đúng 99 ngày anh Mai Thảo đã nằm xuống và hai anh đã chọn một chỗ nằm gần nhau trong nghĩa trang Westminster Memorial Park. Chúng tôi đã đến nhìn anh lần cuối. Anh nằm như ngủ thật thanh thản, không còn vướng bận chuyện buồn vui nhân thế. Như căn nhà trống hoang vu bỏ lại sau khi người chủ đã ra đi. Tất cả chỉ là phù vân. Nhưng những bài thơ tình tuyệt vời của Thi sĩ Nguyên Sa vẫn còn sống mãi trong lòng mọi người ở khắp nơi. Những bài thơ lụa là tình ái đã được các nhạc sĩ tài danh chắp thêm đôi cánh bay lên như những con phượng hoàng rực rỡ trên đỉnh non cao. Và cứ mỗi lần tiếng hát của các ca sĩ vang lên những “Paris có gì lạ không em...”, “Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát. Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông...”, ”...Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc...áo nàng xanh tôi mến là sân trường...” là y như Nguyên Sa hãy còn đâu đó đang mỉm cười và gật đầu với chiếc mũ vừa nghiêng xuống...thơ anh ở chung quanh chúng ta trong đời sống, bằng hương vị tình yêu ngọt ngào, và tình quê hương nồng thắm.

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

NHỮNG BÀI THƠ CUỐI CÙNG CỦA NGUYÊN SA




Nhà thơ Nguyên Sa đã yên nghỉ mười năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta, đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời.
Bài của Tuy Hòa - 
Thi sĩ Nguyên Sa (tên thật Trần Bích Lan) sinh ngày 1/3/1932 tại Hà Nội, mất ngày 18/4/1998 tại Mỹ. Trong cuốn hồi ký của mình, ông viết: "Tôi thích được giới thiệu bằng cách đọc lên một bài thơ Nguyên Sa. Đó là cách giới thiệu được cả Nguyên Sa ý thức và vô thức, cho thấy bản ngã của người làm thơ tương đối đầy đủ nhất, cả bản ngã đã có, bản ngã đang có, và bản ngã muốn có. Những bài thơ khác biệt mang lại bản ngã khác biệt…". Vì vậy, để hiểu Nguyên Sa không có phương pháp nào đáng tin cậy bằng sự nghiêm túc đọc lại thơ Nguyên Sa.
Xuất thân từ một gia đình không liên quan gì đến văn chương nghệ thuật. Năm 17 tuổi, Nguyên Sa sang Pháp du học. Sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông ghi danh vào khoa Triết, ĐH Sorbonne. Và cuộc hạnh ngộ với bà Trịnh Thị Nga đã biến ông thành thi sĩ. Bài thơ nổi tiếng đầu tiên của Nguyên Sa cũng là bài thơ đính hôn. Bài thơ có tên Nga được in vào thiệp cưới của họ năm 1955: "Em đừng buồn như những chiếc lá tre khô. Em đừng buồn như những nóc nhà thờ không có tuổi". Năm 1956, ông bà đưa nhau về Sài Gòn sống bằng nghề dạy học. Không chỉ giảng dạy môn Triết cho các trường trung học, họ còn mở ra hai trường tư thục Văn Học và Văn Khôi. Với quan niệm bản thân "vốn dĩ chỉ là hạt cát", Trần Bích Lan lấy bút danh Nguyên Sa và ngay lập tức lừng lẫy trên thi đàn.


Nhà thơ Nguyên Sa và vợ


Có thể do sự tình cờ hữu duyên, những bài thơ phổ nhạc của Nguyên Sa lan tỏa rất nhanh vào đời sống, và cho đến tận hôm nay, nhắc Nguyên Sa là người ta nghe vang lên trên môi Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn. Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh (Áo lụa Hà Đông), hoặc Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường (Tuổi mười ba); hoặc Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm. Chả biết tay ai làm lá sen (Paris có gì lạ không em) và Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn. Nếu em sợ thời gian dài vô tận (Tháng sáu trời mưa).
Những bài thơ được phổ nhạc ấy cứ bồng bềnh từ thế hệ này sang thế hệ kia, khiến nhiều bài thơ khác của Nguyên Sa ít nhiều bị che khuất, kể cả những câu thơ độc đáo miêu tả chiếc áo dài dân tộc Có phải em mang trên áo bay. Hai phần gió thổi, một phần mây. Hay là em gói mây trong áo. Rồi thở cho làn áo trắng bay. Tuy nhiên, nếu đọc thơ Nguyên Sa viết sau năm 1975 ở hải ngoại, vẫn nhận ra nét hào hoa riêng biệt. Trong tập Hoa sen và hoa đào được sáng tác khoảng thời gian 1982-1988, có những câu thơ mang đậm phong cách Nguyên Sa như Anh nhớ em ngồi áo trắng thon. Ngàn năm còn mãi lúc gần quen. Em gầy như liễu trong thơ cổ. Anh bỏ trường thi lúc Thịnh Đường hay Phương Đông vào chỗ hồng lên má. Chiều xuống lưng chừng mái tóc thưa.
Nguyên Sa từng xuất bản cuốn sách biên khảo triết học Descartes nhìn từ phương Đông, nhưng trả lời phỏng vấn của nhà văn Vũ Bằng vào năm 1972, thì ông vẫn khẳng định: "Nói triết lý sa sả, e rằng sẽ là người tự kiêu. Nhất là trong thơ, càng nhiều triết lý càng mất tính cách của thơ. Theo tôi, thực chất của thơ là cái linh hồn, là sự sống của những chữ ta dùng".
Suy nghiệm đó được Nguyên Sa thể hiện rất rõ trong những bài lục bát. Thơ Việt Nam đã từng tự hào về lục bát Nguyễn Du, lục bát Nguyễn Bính, lục bát Huy Cận thì có lẽ những ai yêu thể thơ truyền thống cũng cần lưu ý lục bát Nguyên Sa. Sáu chữ và tám chữ được Nguyên Sa vận hành khá tự nhiên và nhịp nhàng đến mức phẩm chất thi ca tuôn chảy vào lòng độc giả một cách bất ngờ. Khi gặp Mây hồng bâng khuâng Những chiều sương kín đầu non. Hỏi nhau nhè nhẹ sao buồn chi em, khi muốn Tháo gỡ giăng mắc ngậm ngùi Ta nằm tháo gỡ cơn mưa. Cầu vồng tràn núi cũng vừa bắc ngang. Trong thơ ta gọi là nàng. Nói năng lẫm liệt, tình càng thâm sâu. Trời cao có núi bắc cầu. Trong ta vực thẳm cúi đầu nghe mưa, hoặc khi đăm đắm Hiu quạnh thân phận Bỏ tay vào túi buổi chiều. Lấy ra hiu quạnh với nhiều bản thân. Còn hiu quạnh chỗ mộ phần. Tấm bia màu trắng mấy lần quạnh hiu, và khi hân hoan Ngày khỏi bệnh nhận ra: Thương ghê màu áo hoa cà. Mộng mơ bật sáng trên da thịt người.
Những câu thơ mềm mại, linh hoạt và ấm áp theo suốt cả cuộc đời Nguyên Sa, và lúc đến chặng đường hoàng hôn số kiếp thi sĩ thì ông chợt ngộ Hiện tượng toàn diện để thả hồn tràn theo nghĩ suy không kịp kết nối vần điệu: Lau khô một bông hoa không phải chỉ là động tác của tay. Công việc đòi hỏi sự chú ý của thị giác, sự nhịp nhàng của hô hấp và cả sự di chuyển trong một không gian. Đối mặt với căn bệnh ung thư dạ dày hành hạ từng ngày, Nguyên Sa vẫn không rời bỏ thơ. Bài thơ Hóa học trị liệu có thể xem như một cột mốc để đánh dấu những sáng tác tạ từ nhân gian của ông.
"Tôi biết cây phong đứng ở trước cửa bệnh viện nghĩ gì
Khi những chiếc lá phong buông tay ra
Làm thành những vòng tròn nhỏ
Những chiếc lá phong màu rượu chát rơi xuống một vị trí tên là mặt đất
Gió đưa những chiếc lá phong sang một vị trí khác cũng tên là mặt đất
Như thể vật nào cuối cùng cũng chỉ có cùng một tên"
Không thể nói khác hơn rằng, 22 bài thơ viết từ đầu năm 1998 đến lúc chia tay vĩnh viễn với Nàng thơ, đã cho hậu thế thấy được một dòng chảy khác của thơ Nguyên Sa. Những câu thơ ngổn ngang và giàu chất trí tuệ, không phải đến thình lình, mà có mạch nguồn trong thao thức Nguyên Sa. Trên giường bệnh, có lẽ hơn một lần ông ưu tư về những bài thơ mình viết đã được phổ nhạc truyền tụng khắp nơi: "Tôi đã làm xong bài thơ để phổ nhạc. Nhưng bài nhạc chưa tới. Đến khi nó tới. Bài thơ nhất định bỏ đi". Thật vậy, những bài thơ sau chót của Nguyên Sa hầu như không dành cho âm nhạc, chỉ dành cho những chột dạ.
Nguyên Sa chột dạ về Mật khẩu đời mình:
"Mỗi lần Thượng đế mở toang lồng ngực và bước vào
Tôi sợ đến nín thở
Tôi sợ ông gọi cửa không được
Tôi sợ ông quên mật khẩu
Tôi sợ ông quay ra hỏi
Tôi sẽ không biết trả lời sao
Vì tôi cũng không nhớ"

Nguyên Sa chột dạ về Ký ức người vợ sắt son đi cùng ông suốt hành trình long đong duyên nợ:
"Em làm cho tà áo lượn bay màu trắng ở quê hương xưa
trở thành màu hồng
Em làm thắp lên ngọn bạch lạp vào buổi sáng
ở trong lớp học
trong những giờ khắc yêu đương"
Nguyên Sa chột dạ về những Mặt nạ chập chờn lẩn khuất
"Chiếc mặt nạ ngay sát lần da mặt, gắn vào hay tháo gỡ
đều đòi hỏi nhiều thời gian
Làn da mặt dính vào thịt xương gắn vào hay tháo gỡ càng lâu hơn
Không thể đo được thời gian tìm kiếm những chiếc mặt nạ
Ở dưới làn da mặt dính vào thịt xương"

Nguyên Sa chột dạ về
Con sông ngược xuôi bất tận miền khát vọng
"Suối cạn là nghĩa trang biết thở dài của dòng sông
Sa mạc là nghĩa trang khác, nghĩa trang biết khóc của dòng sông
Vật nào cũng có hai nghĩa trang
Một vật bao giờ cũng có hai tên
Tên nó và tên ước mơ của nó
Nghĩa trang của nó và nghĩa trang của ước mơ
Có lúc tôi thích được gọi bằng tên tôi
Có lúc tôi thích được gọi bằng tên ước mơ của tôi
Đó là lý do tôi ký tên em khi làm thơ"
Thế nhưng, niềm riêng day dứt nhất, đau đáu nhất của Nguyên sa trong những bài thơ cuối cùng là nỗi mong ngóng thăm thẳm cố hương. Như "bài thơ" Nguyên Sa đón Tết ở Wichita Falls giữa cơ hồ run rủi: Nửa khuya nàng đánh thức tôi dậy, nói dậy đi, dậy đi, giao thừa rồi. Tôi ngồi dậy. Chúng tôi mặc quần áo mới. Chúng tôi thắp nhang. Chúng tôi ngồi uống trà với nhau, ngồi tựa lưng vào nhau, hát cho nhau nghe bằng ánh sáng của những ngày mới gặp nhau. Khi nàng quay đầu lại, tôi thấy mắt nàng đỏ hoe. Mắt nàng ngơ ngác giống như mắt con vành khuyên một mình, để định hướng, bay theo những màu vàng của một rừng mai. Dường như, Nguyên Sa không còn muốn ngắt dòng hay ngắt câu, ông cứ để cảm xúc lênh loang cho kịp nhịp điệu hối hả từ trái tim mình. Và ông nghĩ về một sự Thủy chung giản dị khi hóa thân vào tro bụi: anh chỉ xin em ném dùm anh xuống những mảnh đất đầu đời, chỗ bãi phù sa anh tắm mỗi chiều, con lộ mỗi ngày chúng mình cùng nhau đi học. Riêng với quê nhà thơ ấu, Nguyên Sa tỉ mỉ viết sáu câu chia biệt:
"Ngọn đèn chiếu xuống bức tranh
Cầm lên Hà Nội thấy đình miếu xưa
Tiễn nhau nhớ Tháng Giêng, mưa
Sông Hồng nước động bóng chưa nhập hình
Tiễn anh linh hiển u linh
Cấu vào da thịt thấy mình bỏ đi"
Vậy là Nguyên Sa đã yên nghỉ mười năm ở California. Mọi vui buồn và được mất cũng đã lắng dịu đi, đủ để những người bây giờ bình tâm phác thảo một chân dung thơ Nguyên Sa. Ông đã đến với chúng ta, đã sống với chúng ta, đã rời xa chúng ta, và đã gửi lại những câu thơ dâng hiến cả cuộc đời. Gần nửa thế kỷ miệt mài với thơ, Nguyên Sa canh cánh "luôn luôn làm sao để không giống mình, để trở thành một người khác mình, thì đó chính là cách thức, cách thế để trở thành chính mình".
111

Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012

CHUYỆN NHƯ LÀ HUYỀN THOẠI




Bài của Huyền Như
 
Năm 1969, một quân nhân TQLC.VNCH cùng toán lính dưới quyền ,trong một lần đi tiền đồn ở Chương Thiện ,bắt được một nữ giao liên bên kia chiến tuyến. Cô giao liên tên Nguyệt lúc ấy khoảng 15, 16 tuổi rất xinh đẹp, có lẽ nữ sinh ngoài tỉnh vào bưng. Người quân nhân động lòng trắc ẩn trước mỹ nhân đã âm thầm thả cô giao liên ra đi.
  “…Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân

Mai mốt này đây nơi trận tuyến

Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung “
( Hành Quân- Linh Phương )
 Hình như vì bài thơ này mà một website đã viết, tác giả sém ra tòa án binh là vậy.
Nghe đâu năm 1970, 1971 cô giao liên bỏ rừng lên Sài Gòn tìm người quân nhân mà mình mang ơn cứu tử kia.Lúc này, cuộc chiến càng trở nên khốc liệt qua cuộc hành quân Lam Sơn 719, rồi những trận kế tiếp qua khắp vùng chiến thuật. Bóng chim tăm cá, cô giao liên đã không tìm được ân nhân của mình.Năm 1974, cô giao liên lấy chồng là một sĩ quan QLVNCH. Ở người chồng  , cô như thấy hình bóng của người quân nhân ngày nào trong lửa đạn mịt mù đã cho cô con đường sống. Rồi miền Nam thất thủ, cô theo chồng vượt biển đem theo đứa con gái vừa được sáu tháng tuổi.Cuối cùng, bao nỗi thăng trầm ,vợ chồng cô định cư ở một nước Bắc Âu.
Khoảng năm 2005, một vài website nước ngoài, xuất hiện tên Lê Thị Thu Hương với những bài thơ gây được sự chú ý của mọi người. Đọc thơ Lê Thị Thu Hương , họ suy diễn về cô:
 -Tình yêu của kẻ đến sau: Có thể là nỗi lòng của người tình khi bị ghen tức với một bóng hình trong quá khứ của người đàn ông mình yêu. 
 
Yêu anh – em đâu ngại gì thua thiệt
Yêu anh – em đâu ngại gì sóng gió bão giông
Chỉ sợ anh nhìn phía chân trời rồi bâng khuâng
Hồi tưởng lại kỷ niệm mối tình xa khuất
Để em phải khổ tột cùng và nhớ thương quay quắt
Để em phải mệt nhoài qua từng trang ký ức về anh
Người đàn ông đã bóp nghẹt trái tim em

Em bất lực níu chân anh đi về phía trước
Đừng ngoảnh lại- đừng tiếc thương những gì đánh mất
Chút kỷ niệm xưa hấp hối dưới chân mình
Bước qua đi anh!
Cắn răng thật chặt mà đau đớn bước qua
Bật máu môi cũng phải bước qua
Cắt lìa quá khứ …
( Lê Thị Thu Hương )

 -Cái đau xót của người con gái/đàn bà không thể nào bôi xóa quá khứ của một người đàn ông đã có với một người đàn bà khác. 
 
“…Khi khối u tượng bóng-tượng hình
Quặn thắt từ ng thớ thịt
Nhưng anh ơi! Sao anh không mạnh tay cắt đứt
Mầm mống ung thư giữa trái tim đầy thương tích của ngày hôm qua

Sao anh chưa chịu thoát ra
Cái tổ kén níu đôi chân mình bước tới?
Để anh cứ loay hoay tận cùng nỗi nhớ
Với một người trong ký ức xa xăm

Điều duy nhất bây giờ em muốn nói
Quên đi anh! Đừng ngoái lại sau lưng
Kỷ niệm cũ cho vào ngăn ký ức
Mối tình xưa chôn chặt tận đáy lòng …”
( Lê Thị Thu Hương )

 Một suy diễn khác : -Cô ta yêu người đàn ông lớn tuổi hơn cô, rồi cho hết... Người đàn ông đã nhận tình yêu ấy, nhưng ông cũng không thể tự mình xóa bỏ được hình bóng một người đàn bà lúc trước... Dĩ nhiên là lúc trước họ đã yêu nhau, và vì thế người đàn ông ấy không thể quên được... Mà có thể vì lý do nào đó mà hai người đã xa nhau... Người đàn bà đến sau đã phủ nhận điều ấy và cho là người đàn bà kia đã phũ phàng phụ tình người đàn ông mà bà/cô ấy đang yêu (tuyệt đối?) 
 
“…Họ nói rằng mai này em sẽ khổ
Khi yêu người đàn ông lớn tuổi như anh
Nhưng em tin ở em-tin ở chính mình
Nên nguyện một lòng thủy chung-son sắt

Em bước qua ngưỡng cửa đức hạnh
Nằm trong vòng tay anh và yêu anh đến giọt cuối cùng
........
Em bước qua ngưỡng cửa đức hạnh
Trong tình yêu của mình
Bụng em căng đầy giọt máu anh
Trái tim em căng đầy hình bóng anh

Chỉ nụ hôn thôi!
Nụ hôn mà người đàn bà nào đó làm anh đau đớn
Làm trái tim anh nứt rạn
Bởi sự hồn nhiên nhẫn tâm đến độc ác tột cùng …”
( Lê Thị Thu Hương )
 
Tình yêu của người mẹ cô ấy với người đàn ông, truyền qua cô... (và dính luôn - định mệnh!)
 
“…Em đau đớn cố níu lại trái tim thanh xuân của anh đã mất
Trái tim nồng nàn mà thời con gái mẹ da diết đợi chờ
Da diết thương nhớ
Một người đàn ông bóng chim tăm cá
Giữa mịt mù khói súng-đạm bom
Ngần ấy mấy mươi năm
Mẹ em bơ vơ giữa dòng chảy thời gian khắc nghiệt …
[Mùa xuân Khỏa Thân - L ê Thị Thu Hương ]

Hóa ra người đàn ông đó có thất nhiều người đàn bà. Mà hình như ông ấy chỉ khổ sở vì một người thôi thì phải. 
 
“…Chỉ còn em-chỉ còn em- đôi chân trần rướm máu chạy theo những người đàn bà đã rời khỏi cuộc đời anh
Đòi lại thời gian tháng năm về trước
Tháng năm chưa một ai bội bạc …
( Lê Thị Thu Hương )
  
Hình như LTTH yêu người yêu cũ của mẹ mình. Hình như thôi. Ta hãy xem thử những câu này trong bài Ở phi trường Copenhagen:
 “…Anh nhìn thật lâu đôi mắt em-đôi mắt của người con gái ba mươi tám năm về trước
Trong cuộc chiến tranh tàn khốc
(Người con gái ấy đã sinh ra em nhờ lòng nhân hậu của anh)”.
( Lê Thị Thu Hương )
( Nguồn Vietsosu.com )

Có người lại suy diễn người đàn ông này với mẹ LTTH , sinh ra Lê Thị Thu Hương.Nhưng đó cũng chỉ là suy diễn của mỗi người khi đọc thơ Lê Thị Thu Hương.Và người ta đã suy diễn ra chữ Ph. mà Lê Thị Thu Hương thường đề tặng trong thơ của mình

“ Ph. hình như là nhà thơ Linh Phương tác giả bài Kỷ Vật Cho Em được Phạm Duy phổ nhạc “ ( Nguồn: Vietsosu.com ).
 
“… Đêm hiển linh ẩn hiện bóng hình
Hiện tại và quá khứ
Người đàn bà níu thời gian  trở lại quê xưa-chốn cũ
Nơi chiến trường đầy khói lửa-đạn bom
Ba mươi tám năm
Đứa con gái lớn lên giữa trời hoa tuyết
Như lời nguyền hình hương- bóng nguyệt
Hóa kiếp một đời bóng nguyệt-hình hương
Máu hòa máu-lệ hòa lệ -giọt dài-giọt vắn
Nợ duyên chưa dứt
Hư hư-thực thực
Người đàn bà bước ra từ cõi vô thường
Sau ba mươi tám năm dài đằng đẵng
Tìm lại những gì đã mất
Đêm hiển linh em không dám tắt
Ngọn đèn chấp chới trong mơ
…
Đêm hiển linh
Hóa kiếp một đời bóng nguyệt-hình hương “
( Đêm hiển linh- Lê Thị Thu Hương )
 
Bóng nguyệt – hình hương : Nguyệt là tên cô giao liên , là mẹ của cô; và Hương là Lê Thị Thu Hương.Vì thế, đọc thơ  Lê Thị Thu Hương , không ai không suy diễn bi kịch của một mối tình từ thời con gái của người mẹ ở chiến trường Chương Thiện ngày xưa với người cầm súng bên kia chiến tuyến cùng đứa con gái của mình là Lê Thị Thu Hương, như một lời phán truyền của đấng thiêng liêng.

“ …Định mệnh đã cột chặt mẹ vào bi kịch chiến tranh
Đi tìm người thương yêu hết thời trẻ dại
Định mệnh đã cột chặt em mãi mãi
Đi tiếp con đường tình dang dở của mẹ ngày xưa

Giọng cello nhấn chìm cơn mưa
Để nước mắt em yếu mềm đón nhận
Hòa cùng nuớc mắt mẹ từ tiền kiếp trở về nhân gian tưới ngập tràn trái tim vô cảm
Của anh
Và riêng anh

Ba mươi mấy năm bi kịch chiến tranh
Vẫn còn nguyên mầm mống
Có lẽ nào anh nhẫn tâm để em là bản sao lận đận ?
Thời mẹ cưu mang
Có lẽ nào anh nhẫn tâm bình thản ?
Trước tình yêu em

Giọng cello như một lời phán truyền
Rằng cuộc đời em phải tiếp nối
Những gì tồn tại trong quá khứ
Cuộc chiến tranh Việt Nam…Việt Nam… “
 ( Giọng  Cello và bi kịch chiến tranh- Lê Thị Thu Hương ) 
 
Chiến tranh đi qua mấy mươi năm rồi, nhưng ký ức về quá khứ vẫn rõ ràng trong ngăn ký ức của mỗi người sinh ra trong thế hệ đạn bom.Người quân nhân ngày ấy bây giờ cũng ở tuổi bóng xế. Bao thăng trầm đời người là một bi kịch chiến tranh-bi kịch trong nhiều bi kịch hóa thành huyền thoại. Huyền thoại một mối tình từ tuổi 15,16 của người mẹ mang hệ lụy cho người con gái sau này. Phải chăng đó là sự hiển linh kiếp này qua kiếp khác ? Phải chăng đó là nợ tình kiếp trước chưa trả xong, kiếp sau phải tiếp tục trả ?

Chiến tranh là tội ác, là thương yêu.. Người con gái giao liên bên kia chiến tuyến đã bỏ bưng biền, bỏ tháng năm chống Mỹ vào thủ đô Sài Gòn tìm người đàn ông cầm súng từng là kẻ thù của mình. Lạ lẫm từng bước chân từng bước chân con gái
 
“…Thủ đô tám nẻo đường thành
Đường nào gặp lại người cũ
Đường nào gặp lại người lính thú
Bàn chân con gái mười lăm tưa máu đi tìm
Đi tìm
Thủ đô tám nẻo đường thành
Đường nào mang mang hình bóng anh
Áo núi quần sông vai nặng gánh
Nợ núi sông –nợ ân tình
Làm sao trả được anh ơi !...”
( Câu Hỏi Sau Chiến Tranh – Lê Thị Thu Hương )

 Thế hệ của những người con gái trong chiến tranh, cũng như thế hệ thanh niên ngày ấy thật đau khổ. Cầm súng ra đi lúc tuổi 15,16,17,18-tâm hồn như tờ giấy trắng, không một chút hận thù. Kẻ thù không phải là những người Việt Nam bên này hay bên kia, mà là định mệnh của cả một dân tộc. Để rồi sau cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, là bao hệ lụy tang thương, ly tán không riêng gì của kẻ chiến thắng hay người thua trận.
 
“…Mùi anh thường trú trên thân thể em một đời
Một đời mẹ- một đời em –hai đời con gái không chồng hóa đá vọng phu
Chiêm bao nhiều đêm-nhiều đêm mất ngủ
Thèm ngực anh ,em gối đầu nằm chờ mùa xuân mặc áo lụa vàng
Đi qua lời nguyền-đi qua định mệnh mấy mươi năm
Vết thương chiến tranh Việt Nam còn rỉ máu
Trái tim mẹ -trái tim em còn rỉ máu
Không bao giờ lành lại phải không anh ?
Phải không anh ?
Phải không anh ?...”
( Câu Hỏi Sau Chiến Tranh – Lê Thị Thu Hương )
 
Đó là một câu hỏi trong nhiều câu hỏi khi kết thúc cuộc chiến mà biết bao xương máu của thanh niên và nhân dân hai miền Nam-Bắc. Cuộc chiến tranh có những mối tình không ranh giới, không chiến tuyến hóa thành những huyền thoại như là một huyền thoại. Chúng ta không được phép quên những gì của ngày hôm qua, không được phép quên những câu hỏi mà chưa ai trả lời được.Vì cuộc chiến tranh kia là có thật, huyền thoại kia là có thật như trong thơ Lê Thị Thu Hương.
 
“…anh mang trái tim Trọng Thủy
nhưng em không phải là Mỵ Châu
em không phải là Mỵ Châu
để ngày máu chảy ra biển Đông hóa thành hạt ngọc

huyền thoại kia là thật
chiến tranh kia là thật
cuộc chia ly là thật
nên lông ngỗng còn bay trắng đường kinh tuyến nối đất liền với Thái Bình Dương
…
Kinh thành xưa đã mất
Thần Kim quy không cứu được cơ đồ…”
( Chiến tranh kia là thật – Lê Thị Thu Hương )